Bí ẩn nơi an nghỉ của 9 chúa nhà Nguyễn

29/01/2021 14:01

Với thế đất đặc biệt, vùng phía tây, tây nam kinh thành Huế thuộc địa bàn xã Hương Thọ (TX.Hương Trà, Thừa Thiên-Huế) là nơi được người xưa chọn đặt lăng của 9 chúa Nguyễn và 2 vị vua triều Nguyễn.

Địa bàn xã Hương Thọ ở bờ bắc thượng nguồn sông Hương, ranh giới được phân định từ núi Ngọc Trản (xưa kia có tên Hương Uyển Sơn), nơi có điện Hòn Chén, tên chữ là điện Huệ Nam (làng Cư Chánh), lên tới làng Định Môn, nơi có lăng vua Gia Long. Đây là vùng đất nằm ngay ngã ba hai nhánh sông Tả Trạch và Hữu Trạch của sông Hương hội lưu, tạo nên một vùng sơn thủy hữu tình, núi non thanh tú.

Xã Hương Thọ là một xã miền núi ở đầu nguồn sông Hương của thị xã Hương Trà, cách thành phố Huế 12km.

Theo sử sách triều Nguyễn, vào năm 1814, sau khi Thừa Thiên Cao hoàng hậu, vợ chính của vua Gia Long mất, nhà vua liền bàn với các đình thần tìm đất để xây dựng lăng mộ cho vợ, đồng thời cũng là nơi yên nghỉ của mình sau này. Vua Gia Long đã đặc cách vị đại thần là Lê Duy Thanh (con trai của nhà bác học Lê Quý Đôn), là người rất giỏi và am hiểu địa lý thời bấy giờ, phụ trách việc tầm long điểm huyệt.

Lăng Trường Cơ của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng (1525-1613), nằm tại trung tâm thôn La Khê, cách bờ sông Hương chừng 300 m, xoay mặt về hướng chính bắc.

Sau khi lặn lội khắp vùng núi non sông nước của Thừa Thiên -Huế, cuối cùng Lê Duy Thanh cũng trở về chọn cuộc đất tại làng Định Môn (xã Hương Thọ ngày nay). Sử sách cũng kể rằng, sau khi tìm được cuộc đất này, Lê Duy Thanh đã cho bốc dịch tới 7 lần để hỏi xem khí đất cát hung, cuối cùng tìm được một vị trí tốt nhất là vùng núi Thọ Sơn có 5 triền uốn khúc như rồng cuộn từ dưới vươn lên, có 34 ngọn núi cao thấp chầu về, rải đều hai bên với 14 ngọn bên phải, 14 ngọn bên trái và 6 ngọn che chở hầu cận đằng sau.

Lăng Trường Diễn của Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế - Nguyễn Phúc Nguyên (1563-1635), nằm ở thôn Hải Cát, ở phía tả ngạn sông Hương, cách bờ sông khoảng 350m, xoay về phía nam. 

Thế nhưng, khi vua Gia Long đích thân cưỡi voi đến xem, ông đã chọn cho mình một huyệt địa nằm vị trí khác, cách đó không xa, cũng trong vùng núi Thọ Sơn. Nhà vua cùng Lê Duy Thanh gieo quẻ, rồi vua quở trách Lê Duy Thanh rằng: “Xét về long mạch và cuộc đất cát tường thuận theo cung mệnh đế vương thì nơi đây mới hợp, lẽ nào khanh không biết mà lại chọn cho trẫm một nơi không thuận hợp như trước kia. Hay là khanh đã biết mà muốn dành để cải táng hài cốt của cha ông mình vào đó?”.

Lăng Trường Diên của Thần Tôn Hiếu Chiêu Hoàng Đế Nguyễn Phúc Lan (1601-1648), nằm ở thôn La Khê Trẹm. Lăng nằm gần phía dòng Hữu Trạch của sông Hương, cách bờ sông khoảng 300 m, xoay mặt về hướng bắc. Hiện lăng Trường Diên xuống cấp nghiêm trọng, bờ thành ngoài bị vỡ, bên trong cây cỏ mọc um tùm. 

Sau đó, nhà vua còn sai thái tử Đảm (tức vua Minh Mạng sau này) gieo quẻ lần nữa, rồi giao thượng thư bộ Lễ là Nguyễn Hữu Thân giải đoán với kết quả: “Giới vu thạch, bất chung nhật, trinh cát” (vững như thạch, không cần chờ đến ngày, chính bền, tốt). Vì vậy, thượng thư bèn trình lên vua Gia Long đề nghị chọn cuộc đất đó xây lăng.

Lăng Trường Hưng của Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng Đế Nguyễn Phúc Tần (1620-1687), dân gian quen gọi là lăng Chín Chậu, nằm ở thôn Hải Cát. Lăng ở tả ngạn sông Hương, cách bờ sông khoảng 800 m, xoay mặt về hướng đông bắc. 

Theo nhận xét của các nhà phong thủy, cuộc đất lăng vua Gia Long chọn rất đẹp, có Long nhập thủ từ phương Cấn đến, tả có Thanh Long, hữu có Bạch Hổ bao bọc, trước mặt có một hồ lớn làm minh đường với phương thủy tụ là Khôn sơn. Phía bên kia hồ lại có ngọn núi Thiên Thọ làm tiền án, nước chảy tới minh đường rồi uốn lượn mà chảy tiêu ở thủy khẩu Tuất phương.

Lăng Trường Mậu của Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thái (1650-1691), nằm ở thôn Kim Ngọc. Lăng ở phía tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông chừng 1,5 km, trên một quả đồi cao, xoay mặt về hướng bắc, trước mặt lăng có hồ rộng. 

Cùng với vua Gia Long, vua Minh Mạng (1791 - 1841) cũng chọn nơi yên nghỉ của mình nằm gần ngã ba sông Hương, thuộc thôn La Khê, xã Hương Thọ.

Lăng Trường Thanh của Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), nằm ở thôn Kim Ngọc. Lăng ở tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông 800 m,  xoay mặt về hướng đông nam, trước mặt là đồng ruộng. 

“Khác với lăng và các công trình kiến trúc thời vua Nguyễn, lăng các chúa Nguyễn có hướng rất phong phú, không tuân theo nguyên tắc “Nam diện” (xoay mặt về hướng nam). Đây là một điều lý thú đối với những ai muốn tìm hiểu phong thủy thời Nguyễn”.

Lăng Trường Phong của Túc Tôn Hiếu Ninh Hoàng Đế Nguyễn Phúc Chú (Thụ) (1697-1738), nằm ở thôn Định Môn, ở bên cạnh khe Trường Phong, cách bờ sông Hương gần 2 km, xoay mặt về hướng chính bắc.

Được biết, về quy mô và kiểu thức xây dựng, hệ thống lăng mộ các chúa Nguyễn đều tương tự như nhau. Mỗi lăng mộ đều có hai vòng thành hình chữ nhật bao bọc, vòng ngoài xây bằng đá bazan nhưng phần mũ thành xây bằng gạch vồ, vòng trong xây hoàn toàn bằng gạch. Chiều cao của các vòng thành tương ứng đều như nhau.

Lăng Trường Thái của Thế Tôn Hiếu Vũ Hoàng Đế Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nằm ở thôn La Khê, núi La Khê, xoay về hướng chính bắc, trước mặt là đồng ruộng. 

Phần mộ của các Chúa đều xây thấp, phẳng với 2 tầng, xây theo lối giật cấp. Trước mộ có hương án, sau cổng có bình phong trang trí long mã và rồng. Sau lưng mộ cũng có bình phong trang trí rồng cùng kiểu, ghép nổi mành sành sứ hoặc đắp nổi vôi vữa.

Lăng Trường Thiệu của Duệ Tôn Hiếu Định Hoàng Đế Nguyễn Phúc Thuần (1754-1777), ở thôn La Khê, ở tả ngạn dòng Tả Trạch, cách bờ sông chừng 400 m, gần lăng Trường Cơ. 

“Sự giống nhau này cũng dễ hiểu vì tất cả các lăng trên đều được tái xây dựng và tu bổ trong các thời điểm gần nhau, cụ thể được trùng kiến đầu thời Gia Long (trong hai năm 1808 - 1809), tu sửa năm Minh Mạng 21 (1840) và đầu thời Thiệu Trị (1841)”.

Ngoài 9 lăng chúa Nguyễn, tại xã Hương Thọ còn có lăng vua Minh Mạng nằm ở thôn La Khê; lăng vua Gia Long nằm ở thôn Định Môn. 

Thùy Huyền (T/H)