'Địa ngục trần gian' ít người biết đến

12/03/2020 15:34

Được xây dựng sau Nhà tù Hỏa Lò, nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng đúng 47 năm, nhưng quy mô của Nhà tù có tên Khe Tù (Tiên Yên, Quảng Ninh) lại vượt tầm Hỏa Lò cùng những sự đầy đọa và thủ tiêu tù khổ sai. Hàng nghìn dân thường không cam chịu nô lệ cùng các chiến sĩ cách mạng đã mãi mãi nằm cùng đồi bãi và đất gió hoang hoải nơi đây. Tuy nhiên, hiện nay “địa ngục trần gian” nổi tiếng này vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Bài 1: Nhà tù của “nhiều cái nhất”!

Sự kiến tạo của… máu và nước mắt

Gần đến năm 1945, với diễn biến thuận trên toàn thế giới, phong trào cách mạng nước ta phát triển hết sức rầm rộ. Lúc này, từ những nơi hẻo lánh, đến các công xưởng, hầm mỏ; từ nơi bị Thực dân Pháp chiếm giữ đến nơi không bị chiếm giữ đều có các chi bộ, đảng bộ hoạt động. Với những diễn tiến bất lợi này, cùng sự lùng sục và vây hãm, nhiều chiến sĩ cách mạng cũng như nông dân, công nhân được giác ngộ đã bị giặc bắt. Trước những bắt bớ này, các nhà tù, các “căng” (caserne) đã được Thực dân Pháp xây dựng trước đây đều rơi vào tình trạng quá tải.

Ở miền Bắc Việt Nam lúc này, để phục vụ cho khủng bố, đàn áp chí khí cách mạng, các hệ thống “căng” - vốn là nơi đóng quân, đồn trú của binh lính Pháp cũng được biến thành “nhà tù”. Nhưng giải pháp này cũng không đem đến việc chia sẻ cho sự quá tải của tù nhân. Các nhà tù có tiếng thời đấy như Hỏa Lò (xây dựng năm 1896), Điện Biên (xây dựng năm 1901), Sơn La (xây dựng năm 1908)… đều không còn chỗ chứa, trữ tù nhân. Để có sự giải thoát cho vấn đề này cũng như tính toán cho một tầm chiến lược dài hạn của chiến tranh, sau khi khảo sát hết sức cặn kẽ và quy mô, Thực dân Pháp đã quyết định chọn Tiên Yên để xây dựng một nhà tù với tên gọi: Khe Tù.

Sở dĩ Thực dân Pháp lựa chọn Tiên Yên để xây dựng Nhà tù Khe Tù bởi thời gian ấy Tiên Yên vốn là nơi “khỉ ho, cò gáy”, “rừng thiêng, nước độc”. Hơn thế nữa, đặt Nhà tù Khe Tù ở đây, ngoài việc giam giữ tù nhân thì Thực dân Pháp còn có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng dùng để án ngữ đường huyết mạch từ Móng Cái về Hà Nội hoặc ra Hải Phòng. Sự hiện diện của Nhà tù Khe Tù với quy mô phòng giam, lô cốt, đồn bốt, sân bay, kho xăng dầu… còn là hậu cứ của điểm đầu tiên kết nối của con Đường số 4. Con đường này, trong thời kháng Pháp đã được mệnh danh là “con đường lửa” bởi nó đi qua một số tỉnh của chiến khu cách mạng như: Lạng Sơn, Cao Bằng.

Để thực hiện ý tưởng có tính chiến lược với ý nghĩa “một mũi tên, trúng hai đích” này, Thực dân Pháp đã huy động binh lính và tù nhân vào cuộc. Những tù nhân bị bắt tại chỗ hay di chuyển từ các nơi khác, cùng với gót giày, roi da và gậy gỗ rớm máu quất không thương tiếc, gần 6 năm sau,  “địa ngục trần gian” có tên Khe Tù bắt đầu được định hình. Khe Tù là một nhà tù “đắc địa” bởi việc lợi dụng xây cất hết sức khoa học trên một địa hình, địa vật khó nơi nào có được.

Một phần di tích Khe Tù còn giữ được nguyên trạng.

Phía trước Nhà tù Khe Tù là sông Khe Tù mênh mông ôm trọn một dải núi đồi trong một tầm dễ quan sát. Xung quanh Nhà tù Khe Tù được bố trí hệ thống giao thông hào, tường đá và dây thép gai dầy đến vài lớp. Ở vị trí các đồi cao, Thực dân Pháp cho xây dựng hệ thống bót và chòi canh cùng súng máy, đèn quét sáng thường xuyên vào ban đêm. Với cách bố phòng như vậy thì bất cứ một tù nhân nào bước qua chiếc cổng có chữ Nhà tù Khe Tù ngày ấy thì khó có hy vọng quay trở lại!

Những “cái nhất” của Khe Tù

Nhiều chiến sĩ cách mạng, nhiều nhân chứng đã có thời chứng kiến sự hiện diện của Nhà tù Khe Tù đến nay gặp, hỏi lại chuyện không thể không khỏi rùng mình bởi những đầy đọa và hủy diệt đã diễn ra tại đây. Họ đã từng tận mắt chứng kiến sự tàn sát, tận mắt chứng kiến những cảnh tra tấn đánh đập, đến nay không thể nào nguôi ngoai.

Ngày ngày, từng đoàn xe phủ bạt, nối đuôi nhau chở tù nhân vào. Tiếng kêu la, ai oán vang lên cùng tiếng súng và sự nâng lên, hạ xuống không mệt mỏi của các lưỡi dao chém. Tiếng la ngày một ít đi. Xe lại vào, ai oán, kêu la lại vang lên. Rồi lại dịu đi… Nghe tiếng kêu, đếm xe vào ra, người ta biết đã có vài trăm người bị hạ sát trong mỗi đợt.

Sau khi hệ thống nhà tù có tên Khe Tù này đi vào hoạt động, không giống như các nơi khác, Nhà tù Khe Tù là nơi duy nhất dùng để giam giữ hai đối tượng phạm nhân. Đối tượng thứ nhất là lao động khổ sai và đối tượng thứ hai là những người tham gia hoạt động cách mạng. Những người lâm án thuộc các đối tượng này được xe cam – nhông (camion) bịt bạt kín chở về rồi được phân loại.

Người tham gia cách mạng thì bị biệt giam, người lao động khổ sai thì quằn lưng làm việc trong tình cảnh kiệt quệ vì đánh đập và cho ăn đói. Khe Tù ngày ấy cũng nổi danh là nhà tù của một vùng miền rộng lớn. Các tù nhân thuộc đối tượng trên được thu gom ở một dải dài từ Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Phòng, Hải Dương cũng như các tỉnh phía Bắc đều được tập trung về đây. Quân số giảm nhanh chóng bởi sự bạc đãi và công suất làm việc liên tục của các máy chém.

Trong các hệ thống “căng” và nhà tù của Pháp xây dựng tại miền Bắc Việt Nam, Nhà tù Khe Tù thời bấy giờ (và đến cả thời nay) vốn không nổi tiếng. Nhưng thực ra trong cái sự chìm lắng về tiếng tăm này thì Nhà Tù Khe Tù lại đang dẫn đầu những cái nhất mà ít nhà tù nào thời ấy có được. Nếu so sánh với Nhà tù Hỏa Lò, một nhà tù thuộc bậc “đàn anh” do Thực dân Pháp xây dựng thời ấy, hơn Nhà tù Khe Tù đến gần 50 tuổi thì các dụng cụ tra tấn và “đầu tư” các vật dụng để hành quyết tù nhân của Hỏa Lò còn thua xa Khe Tù.

Thời ấy, để ngăn đe và xử tử các tù nhân “cứng đầu” với đầy đủ tội danh thì Hỏa Lò được trang bị 2 máy chém. Riêng khe tù, để đáp ứng với “công suất” chém và hủy tù nên Thực dân Pháp bố trí tại đây đến… 4 máy chém. Các máy chém ở đây cũng được bố trí “khủng” hơn Hỏa Lò rất nhiều, mỗi máy chém được trang bị 1 dao chém có trọng lượng 80kg, dài 2m và dày đến 3cm.

Một trong những bệ máy chém còn sót lại.

Khác với máy chém ở Hỏa Lò, được đặt kín đáo trong buồng xử thì máy chém ở Nhà tù Khe Tù hầu như được bố trí lộ thiên ngoài giời, không cần xây tường che bao. Nối từ các máy chém này xuống sông Khe Tù là các máng xi – măng. Nhiều chứng nhân ở Nhà tù Khe Tù ngày ấy cho biết, vì “công suất” xử tử tù nhân ở Nhà tù Khe Tù quá cao nên phải thiết kế như vậy thì máu của tù nhân mới có đường thoát xuống sông. Vào những ngày cao điểm xử trảm tù nhân, máu phạm nhân theo máng xi – măng, chảy xuống sông Khe Tù loang đỏ một khúc sông.

Bài 2: Ký ức “miền đất dữ”!

Đơn Thương
Theo http://khoe365.net.vn/dia-nguc-tran-gian-it-nguoi-biet-den-67995.html